TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀNG HẢI VIỆT NAM (VMU)
Chuyên khảo nghiên cứu sâu tổng hợp
Kết hợp phân tích lịch sử – tổ chức – khoa học công nghệ – hợp tác quốc tế – đóng góp quốc gia
|
Phạm vi |
Tổng hợp, biên tập và chuẩn hóa từ các tài liệu nghiên cứu cá nhân, có đối chiếu bổ sung với nguồn chính thức của VMU và văn bản Chính phủ. |
|
Cơ sở biên soạn |
Các tài liệu nghiên cứu cá nhân kết hợp nguồn chính thức của VMU về lịch sử, truyền thống, thành tích, hội đồng trường, quan hệ quốc tế, cùng quyết định của Thủ tướng. |
|
Nguyên tắc xử lý nguồn |
Ưu tiên nguồn chính thức để hiệu chỉnh các chỗ lệch dữ kiện; giữ chú thích học thuật ở những điểm có độ vênh nguồn (đặc biệt mốc 1976 và một số số liệu tổ chức – quy mô qua từng năm). |
|
Thời điểm hoàn thiện |
Hải Phòng – Tháng 3/2026 |
Biên soạn phục vụ tra cứu, tham khảo và sử dụng làm nền cho hồ sơ giới thiệu, kỷ yếu hoặc tài liệu nghiên cứu sâu hơn.
TÓM TẮT
Tài liệu này là bộ hồ sơ nghiên cứu về Trường Đại học Hàng hải Việt Nam (VMU). Bài nghiên cứu tập trung vào sáu trục: (i) lịch sử thành lập và các tiền thân của trường; (ii) các giai đoạn phân nhánh, sáp nhập, đổi tên và hoàn thiện thể chế; (iii) lãnh đạo chủ chốt qua các thời kỳ; (iv) sự tiến hóa của cơ cấu tổ chức và hệ sinh thái đào tạo – nghiên cứu; (v) thành tích, đóng góp của trường trong chiến tranh, xây dựng đất nước và phát triển kinh tế biển; và (vi) vai trò hiện nay của VMU trong nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế và chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển. Chuyên khảo giữ cách tiếp cận học thuật thận trọng: những chỗ có độ vênh nguồn được ghi chú minh bạch.
MỤC LỤC
- Mở đầu
- Phương pháp tổng hợp tài liệu và xử lý nguồn
- Lịch sử hình thành và các giai đoạn phát triển
- Lãnh đạo chủ chốt qua các thời kỳ
- Cơ cấu tổ chức và hệ sinh thái đào tạo – nghiên cứu
- Nghiên cứu khoa học: quy mô, hướng nghiên cứu và giá trị ứng dụng
- Hợp tác quốc tế và vị thế học thuật toàn cầu
- Thành tích, truyền thống và những đóng góp nổi bật đối với đất nước
- Vai trò chiến lược của VMU trong giai đoạn mới
- Kết luận
- Phụ lục A. Timeline tra cứu nhanh
- Phụ lục B. Bảng lãnh đạo chủ chốt
- Tài liệu tham khảo
MỞ ĐẦU
Trường Đại học Hàng hải Việt Nam (Vietnam Maritime University – VMU) là một trong những cơ sở giáo dục đại học chuyên ngành có chiều sâu lịch sử lớn nhất của Việt Nam. Lịch sử của trường gắn chặt với lịch sử phát triển của ngành hàng hải, vận tải biển, công trình biển, công nghiệp tàu thủy, logistics và kinh tế biển của đất nước. Vì vậy, nghiên cứu về VMU không chỉ là nghiên cứu về một cơ sở đào tạo, mà còn là nghiên cứu về một thiết chế nòng cốt trong việc hình thành năng lực quốc gia hướng ra biển.
I. PHƯƠNG PHÁP TỔNG HỢP TÀI LIỆU VÀ XỬ LÝ NGUỒN
Bài nghiên cứu này được biên soạn theo phương pháp tổng hợp – đối chiếu (synthesis and cross-check) các tài liệu phân loại theo chức năng: tài liệu xương sống về lịch sử, tài liệu phân tích mở rộng về nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế, tài liệu bình luận chiến lược, và tài liệu dạng hồ sơ tra cứu.
Bước thứ hai là hiệu chỉnh bằng nguồn chính thức. Những thông tin dễ thay đổi theo thời gian – như cơ quan chủ quản, thành phần Hội đồng trường, định hướng phát triển giai đoạn 2025-2030, quan hệ hợp tác mới, hoặc các số liệu đầu ra nghiên cứu gần đây – được đối chiếu với trang chính thức của VMU và các quyết định của Thủ tướng. Cách làm này nhằm giảm rủi ro duy trì các chi tiết đã cũ hoặc chưa chính xác xuất hiện trong một số bản tổng hợp trước.
Bước thứ ba là xử lý các điểm có độ vênh nguồn. Thay vì chọn một cách cơ học một mốc duy nhất, tài liệu ghi nhận song song các dữ kiện khi cần thiết và giải thích logic lịch sử phía sau. Điển hình nhất là mốc năm 1976: hệ nguồn của VMU xuất hiện cả quyết định cấp bộ ngày 07/7/1976 và quyết định cấp Thủ tướng ngày 27/10/1976 liên quan đến việc hình thành/nâng cấp Trường Đại học Hàng hải; tài liệu này vì vậy dùng cách diễn đạt “năm 1976 là bước ngoặt đại học hóa của trường” và lưu ý song song hai dấu mốc pháp lý.
Bảng 1. Thông tin khái quát về VMU hiện nay
|
Nội dung |
Thông tin tổng hợp |
|
Tên trường |
Trường Đại học Hàng hải Việt Nam (Vietnam Maritime University – VMU). |
|
Mốc thành lập lịch sử |
01/4/1956 – mốc của Trường Sơ cấp Lái tàu, tiền thân sớm nhất mà VMU kế thừa chính thức. |
|
Trụ sở chính hiện nay |
484 Lạch Tray, quận Lê Chân, Hải Phòng. |
|
Cơ quan quản lý hiện hành |
Thuộc hệ thống quản lý của Bộ Xây dựng theo bối cảnh sắp xếp bộ máy trung ương; tài liệu trước đó có thể ghi Bộ Giao thông vận tải do phản ánh thời điểm cũ hơn. |
|
Quy mô đào tạo gần đây |
Khoảng hơn 20.000 sinh viên; năm 2025 trường công bố 50 chương trình đại học, cùng hệ sau đại học và đào tạo nghề/huấn luyện nghiệp vụ. |
|
Định vị chiến lược |
Trường trọng điểm quốc gia về đào tạo, nghiên cứu phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển theo Quyết định 1901/QĐ-TTg ngày 05/9/2025. |
II. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN
1. Khởi nguyên 1956-1958: từ đào tạo lái tàu và máy tàu đến hợp nhất đào tạo hàng hải
Theo lịch sử chính thức của trường, ngày 01/4/1956 Trường Sơ cấp Lái tàu được thành lập tại Nhà máy nước đá, đường Cù Chính Lan, Hải Phòng; người đứng đầu là Kiều Công Quế, Giám đốc Cảng Hải Phòng kiêm Hiệu trưởng. Ngày 01/7/1956, Trường Sơ cấp Máy tàu được thành lập tại số 5 Bến Bính, Hải Phòng, do Nguyễn Văn Tiên làm Hiệu trưởng. Đầu năm 1957, hai trường được sáp nhập thành Trường Sơ cấp Hàng hải. Đây là lý do VMU lấy 01/4/1956 làm ngày thành lập chính thức, đồng thời phản ánh cách nhà trường nhận mình là sự nối tiếp liên tục của toàn bộ hệ đào tạo nhân lực biển, chứ không chỉ của một pháp nhân đại học về sau.

(Ảnh: VMU)
2. Giai đoạn 1959-1961: nâng cấp thành Trường Trung cấp Hàng hải
Đầu năm 1959, Trường Sơ cấp Hàng hải được nâng lên thành Trường Trung cấp Hàng hải trực thuộc Tổng cục Giao thông thủy bộ. Cùng năm, trường chuyển về số 8 Trần Phú, Hải Phòng và bắt đầu hình thành bộ phận Điện tàu thủy. Đây là thời kỳ nền móng, đánh dấu bước chuyển từ mô hình đào tạo nghề vận hành cơ bản sang mô hình trung học chuyên nghiệp kỹ thuật biển có cấu trúc ngành nghề rõ hơn.

(Ảnh: VMU)
3. Giai đoạn 1962-1975: mở rộng ngành nghề và hình thành trục đại học
Từ đầu thập niên 1960 đến giữa thập niên 1970, trường hoạt động với tên Trường Hàng hải Việt Nam. Trong giai đoạn này, trường lần lượt hình thành Ban Điện tàu thủy, Ban Vỏ tàu thủy, mở các lớp Sơ cấp Thương vụ, Sơ cấp Hàng giang, rồi đến năm 1966 thành lập Khoa Đại học Hàng hải. Năm 1970, các tổ Vỏ tàu, Hàn tàu và Sửa chữa máy được hợp nhất thành Ban Cơ khí thủy. Nếu nhìn theo logic tổ chức, đây là pha VMU chuyển từ đào tạo nghề đơn ngành sang đào tạo hệ sinh thái nhân lực biển.

(Ảnh: VMU)
4. Giai đoạn phân nhánh 1969-1984: Phân hiệu Đại học Giao thông Đường thủy và quá trình tái hợp
Một nét đặc thù trong lịch sử VMU là giai đoạn hình thành Phân hiệu Đại học Giao thông Đường thủy theo Quyết định 115/CP năm 1969. Điều này cho thấy đào tạo hàng hải – đường thủy bậc cao từng được tổ chức theo mô hình phân nhánh và liên thông giữa nhiều đầu mối. Trong các năm 1973-1974, các ngành thuộc Khoa Hàng hải được điều chuyển, tái sắp xếp để chuẩn bị hình thành trường đại học hàng hải độc lập. Đến năm 1984, Bộ GTVT ra quyết định sáp nhập Trường Đại học Giao thông Đường thủy vào Trường Đại học Hàng hải. Đây là mốc hợp nhất quan trọng, tạo nên hình hài cơ bản của VMU hiện đại.

(Ảnh: VMU)
5. Năm 1976: bước ngoặt đại học hóa và ghi chú về độ vênh nguồn
Năm 1976 là mốc đại học hóa của trường, nhưng hệ nguồn xuất hiện song song hai dấu mốc pháp lý: một quyết định cấp bộ ngày 07/7/1976 và một quyết định cấp Thủ tướng ngày 27/10/1976. Bộ hồ sơ nghiên cứu người dùng cung cấp đều đã ghi nhận điểm này, và nguồn chính thức của VMU cũng cho thấy cần xử lý mốc 1976 một cách học thuật thận trọng. Vì vậy, trong nghiên cứu này, năm 1976 được xem là bước ngoặt xác lập trường ở bậc đại học; khi trích dẫn chuyên sâu, nên nêu cả hai dấu mốc nếu mục tiêu là độ chính xác sử liệu.

(Ảnh: VMU)
6. Từ 1989 đến nay: phân hiệu phía Nam, đổi tên, mở rộng hệ sinh thái và tái định vị quốc gia
Năm 1989, trường thành lập Trung tâm Đại học Hàng hải phía Nam; năm 1991 đơn vị này được chuyển thành Phân hiệu Đại học Hàng hải – một nhánh phát triển mà tài liệu của trường cho biết về sau trở thành nền tảng của Trường Đại học Giao thông Vận tải TP.HCM. Ngày 03/7/2013, theo Quyết định 1056/QĐ-TTg, Trường Đại học Hàng hải chính thức đổi tên thành Trường Đại học Hàng hải Việt Nam. Giai đoạn 2013-2014 cũng chứng kiến việc tiếp nhận Trường Cao đẳng nghề VMU, Viện Khoa học công nghệ tàu thủy và một số dự án nghiên cứu – thực nghiệm, qua đó đẩy VMU từ mô hình “đại học đào tạo” sang mô hình “đại học đào tạo – nghiên cứu – thử nghiệm – chuyển giao”. Đến ngày 05/9/2025, Quyết định 1901/QĐ-TTg phê duyệt Đề án xây dựng VMU thành trường trọng điểm quốc gia về đào tạo, nghiên cứu phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển, xác lập một bước ngoặt chiến lược mới.

(Ảnh: VMU)
Bảng 2. Timeline lịch sử cốt lõi của VMU
|
Năm/giai đoạn |
Sự kiện |
Ý nghĩa |
|
1956 |
Thành lập Trường Sơ cấp Lái tàu (01/4) và Trường Sơ cấp Máy tàu (01/7). | Đặt nền móng cho đào tạo nhân lực biển có tổ chức; là gốc lịch sử chính thức của VMU. |
|
1957 |
Sáp nhập hai trường sơ cấp thành Trường Sơ cấp Hàng hải. | Bước hợp nhất đầu tiên của hệ đào tạo hàng hải. |
|
1959 |
Nâng cấp thành Trường Trung cấp Hàng hải; chuyển về 8 Trần Phú. | Bắt đầu giai đoạn đào tạo kỹ thuật biển có cấu trúc chuyên ngành rõ hơn. |
|
1962-1975 |
Mở rộng các ban chuyên môn, lập Khoa Đại học Hàng hải. | Chuyển từ đào tạo nghề sang đào tạo hệ sinh thái nhân lực biển. |
|
1969 |
Thành lập Phân hiệu Đại học Giao thông Đường thủy. | Đánh dấu giai đoạn phân nhánh – liên thông giữa các cấu phần đào tạo biển và đường thủy. |
|
1976 |
Trường được xác lập ở bậc đại học; hệ nguồn có hai mốc 07/7 và 27/10. | Bước ngoặt đại học hóa; cần ghi nhận song song khi trích dẫn học thuật. |
|
1984 |
Sáp nhập Trường Đại học Giao thông Đường thủy vào Trường Đại học Hàng hải. | Tạo hình hài cơ bản của VMU hiện đại. |
|
1989-1995 |
Mở phân hiệu phía Nam; cho phép đào tạo cao học; lập Viện Đào tạo Sau đại học. | Hoàn thiện cấu trúc đại học đa bậc học. |
|
2013-2014 |
Đổi tên thành Trường Đại học Hàng hải Việt Nam; tiếp nhận thêm các đơn vị nghiên cứu – đào tạo. | Tái định vị ở cấp quốc gia; mở rộng hệ sinh thái học thuật và thực nghiệm. |
|
2025 |
Phê duyệt Đề án trường trọng điểm quốc gia theo QĐ 1901/QĐ-TTg. | Khẳng định vai trò nòng cốt của VMU trong chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển. |
III. LÃNH ĐẠO CHỦ CHỐT QUA CÁC THỜI KỲ
Qua gần bảy thập niên lịch sử, VMU đã đi qua nhiều thế hệ lãnh đạo có vai trò khác nhau: nhóm lãnh đạo xây nền thời sơ cấp – trung cấp; nhóm lãnh đạo thời quá độ đại học hóa; và nhóm lãnh đạo thời kỳ hợp nhất, mở rộng, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Trong bộ hồ sơ nghiên cứu đã tải lên, chuỗi lãnh đạo được nhắc đến tương đối ổn định, cho phép dựng lại một trục phát triển liên tục của bộ máy điều hành nhà trường.
Giai đoạn khởi đầu gồm Kiều Công Quế ở Trường Sơ cấp Lái tàu và Nguyễn Văn Tiên ở Trường Sơ cấp Máy tàu, sau đó là quyền Hiệu trưởng Trường Sơ cấp Hàng hải. Giai đoạn Trung cấp Hàng hải có Lê Văn Cường, rồi tiếp đến là Đặng Văn Qua và Đào Văn Quang. Giai đoạn chuẩn bị lên đại học có Đỗ Viết Sử. Nhánh Phân hiệu Đại học Giao thông Đường thủy do Vũ Lăng đứng đầu. Khi trường lên bậc đại học năm 1976, Trần Thiện giữ vai trò Hiệu trưởng kiêm nhiệm. Từ năm 1979 trở đi, chuỗi Hiệu trưởng tương đối rõ gồm Lê Đức Toàn, Trần Đắc Sửu, Đặng Văn Uy, Lương Công Nhớ và hiện nay là PGS.TS. Phạm Xuân Dương.
Thực hiện các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước tại Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15, các văn bản hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, và Bộ Xây dựng, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam đã hoàn thành việc sắp xếp nhân sự giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý của Nhà trường sau khi kết thúc hoạt động của Hội đồng trường.
Ngày 27/02/2026, Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã ban hành các quyết định về công tác cán bộ tại Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, cụ thể:
– Để PGS.TS. Nguyễn Khắc Khiêm, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng trường thôi giữ chức Chủ tịch Hội đồng trường và bổ nhiệm giữ chức vụ Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, thời hạn giữ chức vụ tính từ ngày 27/02/2026.
– Bổ nhiệm PGS.TS. Phạm Xuân Dương, Phó Bí thư Đảng ủy giữ chức vụ Hiệu trưởng Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, thời hạn giữ chức vụ tính từ ngày 28/11/2025.
– Bổ nhiệm PGS.TS. Nguyễn Thanh Sơn, Ủy viên BTV Đảng ủy giữ chức vụ Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, thời hạn giữ chức vụ tính từ ngày 20/10/2025.
– Bổ nhiệm PGS.TS. Nguyễn Minh Đức, Ủy viên BTV Đảng ủy giữ chức vụ Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, thời hạn giữ chức vụ tính từ ngày 20/10/2025.
– Bổ nhiệm PGS.TS. Phạm Văn Thuần, Đảng ủy viên giữ chức vụ Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hàng hải Việt Nam, thời hạn giữ chức vụ tính từ ngày 20/11/2024.
Để việc kiện toàn các chức danh lãnh đạo của Đảng ủy Trường kịp thời và đồng bộ với các chức danh lãnh đạo Nhà trường, được sự đồng ý của Ban Thường vụ Đảng ủy Ủy ban nhân dân thành phố (UBND TP) Hải Phòng, Đảng ủy Trường đã thực hiện quy trình giới thiệu nhân sự và bầu kiện toàn chức danh Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy Trường nhiệm kỳ 2025-2030.
Ngày 19/3/2026, Ban Thường vụ Đảng ủy UBND TP Hải Phòng đã ban hành Quyết định số 1103-QĐ/ĐU chuẩn y chức danh Bí thư Đảng uỷ Trường Đại học Hàng hải Việt Nam nhiệm kỳ 2025-2030 đối với đồng chí Phạm Xuân Dương, Hiệu trưởng Nhà trường và Quyết định 1104-QĐ/ĐU chuẩn y chức danh Phó Bí thư Đảng ủy Trường Đại học Hàng hải Việt Nam nhiệm kỳ 2025-2030 đối với đồng chí Nguyễn Thanh Sơn, Phó Hiệu trưởng thường trực Nhà trường. Đây là bước ngoặt quan trọng nhằm sớm ổn định tổ chức, bộ máy của Nhà trường sau quá trình sắp xếp, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của cấp ủy, tạo động lực mới cho sự phát triển của Trường Đại học Hàng hải Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo.
Sáng 23/3/2026, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam đã tổ chức Hội nghị công bố Quyết định chuẩn y Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy Trường nhiệm kỳ 2025-2030 và Bàn giao hồ sơ, tài liệu của Hội đồng trường cho Hiệu trưởng. Sự kiện có ý nghĩa quan trọng, hoàn thành việc kết thúc quá trình hoạt động của Hội đồng trường theo Nghị quyết số 71-NQ/TW, ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo và Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15.
Bảng 3. Chuỗi lãnh đạo chủ chốt tiêu biểu qua các thời kỳ
|
Thời kỳ |
Chức danh/chức vụ | Họ và tên |
Ghi chú |
|
1956-1957 |
Hiệu trưởng (kiêm) | Kiều Công Quế | Giám đốc Cảng Hải Phòng kiêm lãnh đạo Trường Sơ cấp Lái tàu. |
|
1956-1957 |
Hiệu trưởng | Nguyễn Văn Tiên | Lãnh đạo Trường Sơ cấp Máy tàu; sau đó là Quyền Hiệu trưởng Trường Sơ cấp Hàng hải. |
|
1959-đầu 1960s |
Hiệu trưởng | Lê Văn Cường | Hiệu trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy ở giai đoạn Trường Trung cấp Hàng hải. |
|
1960s |
Hiệu trưởng | Đặng Văn Qua; Đào Văn Quang | Các gương mặt lãnh đạo giai đoạn mở rộng đào tạo kỹ thuật biển. |
|
1974-1975 |
Quyền Hiệu trưởng | Đỗ Viết Sử | Lãnh đạo thời kỳ chuẩn bị đại học hóa. |
|
1969-1970s |
Hiệu trưởng Phân hiệu GTĐT | Vũ Lăng | Đứng đầu Phân hiệu Đại học Giao thông Đường thủy. |
|
1976 |
Hiệu trưởng (kiêm) | Trần Thiện | Gắn với bước ngoặt đại học hóa năm 1976. |
|
1979-1997 |
Hiệu trưởng | Lê Đức Toàn | Lãnh đạo dài hạn sau hợp nhất, giai đoạn củng cố đại học chuyên ngành. |
|
1997-2004 |
Hiệu trưởng | Trần Đắc Sửu | Giai đoạn phát triển và ổn định tiếp theo. |
|
2004-2012 |
Hiệu trưởng | Đặng Văn Uy | Đẩy mạnh hiện đại hóa, chuẩn hóa và hội nhập. |
|
2012-2019 |
Hiệu trưởng | Lương Công Nhớ | Giai đoạn đổi tên trường và mở rộng hệ sinh thái đào tạo – nghiên cứu. |
|
2019-nay |
Hiệu trưởng | Phạm Xuân Dương | Lãnh đạo giai đoạn trường trọng điểm quốc gia và mở rộng hợp tác quốc tế. |
IV. CƠ CẤU TỔ CHỨC VÀ HỆ SINH THÁI ĐÀO TẠO – NGHIÊN CỨU
Một trong những trục phát triển quan trọng của VMU là sự tiến hóa từ mô hình tổ chức hết sức đơn giản sang mô hình đại học đa đơn vị. Thuở ban đầu, cấu trúc của trường gần như chỉ xoay quanh hai trục nghiệp vụ: lái tàu và máy tàu. Sau đó lần lượt mở thêm điện tàu thủy, vỏ tàu, cơ khí thủy, thương vụ, hàng giang và cuối cùng là Khoa Đại học Hàng hải. Toàn bộ tiến trình này phản ánh việc trường đi từ đào tạo chức năng nghề sang đào tạo ngành/chuyên ngành, rồi lên đại học chuyên ngành.
Theo trang giới thiệu hiện nay của VMU, trường vận hành theo mô hình gồm Hội đồng trường, Ban Giám hiệu, các phòng chức năng, khoa chuyên môn, viện và trung tâm. Hệ thống đơn vị cho thấy VMU đã trở thành một đại học biển theo nghĩa rộng, không chỉ đào tạo thuyền viên và sĩ quan đi biển mà còn bao phủ cả kinh tế, công nghệ, môi trường, logistics, pháp lý và quốc phòng – an ninh liên quan đến không gian biển.
Danh mục công khai hiện nay của trường cho thấy các khoa chuyên môn gồm Khoa Hàng hải, Khoa Máy tàu biển, Khoa Kinh tế, Khoa Quản trị – Tài chính, Khoa Điện – Điện tử, Khoa Đóng tàu, Khoa Công trình, Khoa Công nghệ thông tin, Khoa Lý luận chính trị, Khoa Ngoại ngữ và Khoa Cơ sở – Cơ bản. Bên cạnh đó là các viện, trung tâm như Trường Cao đẳng VMU, Viện Đào tạo Quốc tế, Viện Đào tạo Sau đại học, Viện Đào tạo Chất lượng cao, Viện Cơ khí, Viện Môi trường, Viện Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ Hàng hải, Viện Khoa học công nghệ tàu thủy, Trung tâm huấn luyện thuyền viên, Trung tâm đào tạo Logistics tiểu vùng Mê Kông – Nhật Bản tại Việt Nam, Trung tâm Ứng dụng và Phát triển CNTT…
Bảng 4. Khung cơ cấu tổ chức hiện nay của VMU (tổng hợp)
|
Nhóm đơn vị |
Ví dụ tiêu biểu |
Ý nghĩa học thuật/quản trị |
|
Quản trị |
Hội đồng trường; Ban Giám hiệu; các phòng chức năng | Bảo đảm hoạch định chiến lược, điều hành và hỗ trợ học thuật – tài chính – chất lượng – đối ngoại. |
|
Khoa chuyên môn |
Hàng hải; Máy tàu biển; Đóng tàu; Điện – Điện tử; Kinh tế; CNTT… | Thể hiện độ bao phủ toàn chuỗi giá trị nhân lực biển, từ vận hành tàu đến công nghệ, quản trị và hậu cần. |
|
Viện đào tạo |
Viện Đào tạo Sau đại học; Viện Đào tạo Quốc tế; Viện Đào tạo Chất lượng cao | Mở rộng đào tạo đa bậc học, gắn kết quốc tế và nâng chuẩn chất lượng. |
|
Viện nghiên cứu |
Viện Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ Hàng hải; Viện Khoa học công nghệ tàu thủy; Viện Môi trường | Khẳng định vai trò của VMU như một trung tâm tri thức và nghiên cứu ứng dụng biển. |
|
Trung tâm thực hành/huấn luyện |
Trung tâm huấn luyện thuyền viên; Trung tâm Logistics Mê Kông – Nhật Bản; Trung tâm CNTT | Gắn lý thuyết với chuẩn nghề nghiệp, thực hành, mô phỏng và đào tạo liên tục. |
|
Hệ sinh thái liên cấp |
Trường Cao đẳng VMU | Tạo hành lang đào tạo từ nghề đến tiến sĩ, phục vụ cả nhu cầu kỹ năng nghề và nguồn nhân lực trình độ cao. |
V. NGHIÊN CỨU KHOA HỌC: QUY MÔ, HƯỚNG NGHIÊN CỨU VÀ GIÁ TRỊ ỨNG DỤNG
VMU không chỉ là một trường đào tạo hàng hải truyền thống mà còn là một cơ sở nghiên cứu đang dịch chuyển rõ về phía khoa học công nghệ biển, logistics số, an toàn hàng hải, công nghệ tàu thủy và kinh tế biển. Nguồn chính thức của trường năm 2025 cũng xác nhận xu hướng này khi nhấn mạnh nghiên cứu cảng thông minh, số hóa logistics chuỗi cung ứng, công nghệ vận tải biển xanh giảm phát thải, và các nhiệm vụ tư vấn chính sách liên quan đến khoa học công nghệ biển cho Hải Phòng.
Theo chia sẻ chính thức của Hiệu trưởng VMU đầu năm 2025, trong năm 2024 nhà trường thực hiện 15 đề tài, nhiệm vụ cấp Bộ và cấp thành phố; 126 đề tài cán bộ, giáo viên và 139 đề tài sinh viên cấp trường; đồng thời đạt giải thưởng khoa học công nghệ sinh viên cấp Bộ và giải Nhất Euréka. Trường đã triển khai các hướng nghiên cứu nổi bật như hệ thống cảng thông minh, số hóa logistics chuỗi cung ứng, công nghệ vận tải biển xanh, hệ thống báo cháy tàu thủy ứng dụng công nghệ TIC và trí tuệ nhân tạo, cùng các chương trình phát triển khoa học và công nghệ biển cho thành phố Hải Phòng.
Nhiều hướng nghiên cứu tiêu biểu của VMU nằm ở giao điểm giữa kỹ thuật – công nghệ – quản trị. Có thể kể đến các đề tài về nâng cao an toàn hàng hải trên vùng biển Việt Nam, ứng dụng CNTT cho vận tải thủy nội địa hành lang Hải Phòng – Quảng Ninh – Hà Nội, ứng dụng blockchain trong logistics hàng hải, tính toán hệ dây neo công trình biển nổi, điều khiển hệ thống tàu thủy, nâng cao chất lượng dịch vụ cảng biển Lạch Huyện, và các nghiên cứu về AI, Big Data, IoT cho logistics – vận tải biển. Những chủ đề này cho thấy VMU đang tạo ra tri thức không chỉ phục vụ đào tạo mà còn có thể đi vào năng lực cạnh tranh của kinh tế biển.
Một điểm đáng chú ý là nhiều khoa, viện thành viên của trường đang duy trì hoạt động nghiên cứu cấp khoa, cấp trường với quy mô tương đối mạnh. Các trang đơn vị của VMU trong năm học 2024-2025 cho thấy hoạt động nghiệm thu đề tài giảng viên và sinh viên diễn ra thường xuyên tại Khoa Đóng tàu, Khoa Công trình, Khoa Hàng hải, Khoa Cơ sở – Cơ bản và các viện chuyên môn. Điều này phản ánh nền văn hóa nghiên cứu đã được lan tỏa xuống tận cấp đơn vị, thay vì chỉ tập trung ở cấp trường.
Bảng 5. Một số hướng nghiên cứu và đề tài tiêu biểu
| Nhóm nghiên cứu | Ví dụ/đề tài tiêu biểu | Ý nghĩa ứng dụng |
| An toàn hàng hải | Nghiên cứu giải pháp nâng cao an toàn hàng hải trên vùng biển Việt Nam; hệ thống báo cháy tàu thủy TIC + AI. | Nâng cao an toàn khai thác tàu, giảm rủi ro hàng hải và tăng năng lực phòng ngừa sự cố. |
| Vận tải thủy – logistics số | Đề tài ứng dụng CNTT nâng cao vận tải thủy nội địa hành lang Hải Phòng – Quảng Ninh – Hà Nội; số hóa logistics chuỗi cung ứng. | Tăng hiệu quả kết nối vận tải, giảm chi phí giao dịch, hỗ trợ phát triển chuỗi logistics biển – sông. |
| Công nghệ số mới | Nghiên cứu blockchain trong logistics hàng hải; AI, Big Data, IoT cho vận tải và quản lý hàng hải. | Hỗ trợ minh bạch hóa dữ liệu, điều phối chuỗi cung ứng, quản trị rủi ro và chuyển đổi số ngành biển. |
| Kết cấu – đóng tàu – công trình nổi | Tính toán hệ dây neo công trình biển nổi; nghiên cứu bề mặt vỏ tàu và chong chóng; điều khiển hệ thống tàu thủy. | Nâng cao hiệu suất, độ an toàn và hiệu quả sử dụng năng lượng của phương tiện/công trình biển. |
| Kinh tế biển và dịch vụ cảng | Nâng cao chất lượng dịch vụ cảng biển Lạch Huyện; nghiên cứu dịch vụ đại lý tàu biển. | Tăng năng lực cạnh tranh của cảng biển, hãng tàu, đại lý và toàn chuỗi logistics biển. |
| Khoa học công nghệ biển cấp địa phương | Đề xuất chương trình phát triển KHCN biển Hải Phòng đến 2030; đề án xây dựng Hải Phòng thành trung tâm quốc tế về đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng KHCN biển. | Kết nối nhà trường với hoạch định chính sách và chiến lược phát triển khoa học công nghệ biển của thành phố. |
VI. HỢP TÁC QUỐC TẾ VÀ VỊ THẾ HỌC THUẬT TOÀN CẦU
VMU là một trong những cơ sở đào tạo hàng hải Việt Nam hội nhập quốc tế sớm và sâu. Nguồn chính thức của trường hiện nêu rõ VMU là thành viên của AMFUF, IAMU và BIMCO; đồng thời trang Quan hệ quốc tế của trường cho thấy mạng lưới đối tác trải rộng từ Hoa Kỳ, Anh, Úc, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc đến các tổ chức học thuật – nghề nghiệp hàng hải tầm quốc tế.
Nghiên cứu nhấn mạnh vai trò của VMU trong IAMU và AMETIAP/GlobalMET. Tài liệu này cho thấy VMU trở thành thành viên chính thức từ năm 2002-2004, từng đảm nhiệm các vai trò có ảnh hưởng trong cấu trúc của IAMU, và thông qua đó góp phần đưa đào tạo hàng hải Việt Nam gắn hơn với chuẩn quốc tế. VMU không chỉ “tham gia” các hiệp hội, mà còn dùng chính mạng lưới đó để nâng cấp chuẩn đào tạo, nghiên cứu và tính hiện diện quốc tế của mình.
Trang web của VMU cập nhật thêm nhiều điểm hợp tác mới: Biên bản ghi nhớ với Đại học Hàng hải Thế giới (WMU) dưới sự chứng kiến của Thủ tướng Phạm Minh Chính tại Stockholm ngày 12/6/2025; quan hệ với Đại học Tasmania (UTAS), Đại học Memorial (Canada), Đại học Hàng hải Đại Liên (Trung Quốc), Korea Maritime and Ocean University (KMOU), cùng nhiều hội thảo quốc tế như Ai-MAST 2024 và ACMSSR 2025. Đặc biệt, việc ký kết với WMU mang ý nghĩa biểu tượng cao vì đưa VMU vào mối liên kết trực tiếp với một cơ sở đào tạo sau đại học hàng đầu thế giới trong lĩnh vực hàng hải.
Xét trên bình diện chiến lược, hợp tác quốc tế của VMU có ít nhất bốn tầng giá trị: nâng chuẩn đào tạo và nghiên cứu; tăng trao đổi giảng viên, sinh viên và nghiên cứu sinh; mở rộng các dự án chuyển giao công nghệ – logistics – công nghệ biển; và cải thiện vị thế đại diện của Việt Nam trong các diễn đàn học thuật hàng hải toàn cầu. Đây là một trong những nhân tố giúp VMU có cơ sở để được đặt vào lộ trình trường trọng điểm quốc gia.

(Ảnh: VMU)
Bảng 6. Một số đầu mối hợp tác quốc tế nổi bật của VMU
| Đối tác/mạng lưới | Dạng hợp tác | Ý nghĩa |
| World Maritime University (WMU) | Biên bản ghi nhớ hợp tác ngày 12/6/2025; trao đổi, nghiên cứu, hội thảo, hợp tác đào tạo. | Tăng độ kết nối toàn cầu của VMU với trung tâm sau đại học hàng hải hàng đầu thế giới. |
| IAMU; AMFUF/AMETIAP/GlobalMET; BIMCO | Thành viên, tham gia điều hành, hội nghị và mạng lưới chuyên môn. | Nâng chuẩn hội nhập, giúp VMU hiện diện trong các thiết chế hàng hải quốc tế. |
| UTAS; Memorial; Dalian Maritime University; KMOU | Biên bản ghi nhớ, chương trình liên kết/chuyển tiếp, trao đổi học thuật. | Mở rộng mạng lưới đối tác chiến lược ở các trung tâm giáo dục biển mạnh của thế giới. |
| MLIT Nhật Bản và các đối tác doanh nghiệp Nhật | Trao đổi, kêu gọi viện trợ, dự án logistics, liên doanh huấn luyện – thiết kế tàu thủy. | Gắn đào tạo và nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn của ngành logistics – công nghiệp biển. |
| Ai-MAST 2024; ACMSSR 2025; AGA17; AMFUF 2019, 2025 | Hội thảo, hội nghị quốc tế do trường tổ chức hoặc đồng tổ chức/tham dự. | Thúc đẩy vị thế học thuật, công bố khoa học và kết nối chuyên gia khu vực – toàn cầu. |
VII. THÀNH TÍCH, TRUYỀN THỐNG VÀ NHỮNG ĐÓNG GÓP NỔI BẬT ĐỐI VỚI ĐẤT NƯỚC
VMU là một trong số rất ít trường đại học ở Việt Nam vừa có hệ thống huân chương – danh hiệu lớn về giáo dục và lao động, vừa mang chiều sâu lịch sử chiến tranh và quốc phòng. Trường đã được trao các phần thưởng cấp Nhà nước như Huân chương Độc lập, Huân chương Lao động, Huân chương Hồ Chí Minh, Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới và Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Đóng góp thứ nhất và bền vững nhất của VMU là đào tạo nguồn nhân lực biển cho quốc gia. Suốt nhiều thập niên, trường đã cung cấp thuyền trưởng, máy trưởng, sĩ quan quản lý, sĩ quan vận hành, kỹ sư, cử nhân, nhà nghiên cứu và cán bộ quản lý cho đội tàu, cảng biển, cơ sở đóng sửa tàu, doanh nghiệp logistics, cơ quan quản lý nhà nước và các đơn vị kinh tế biển khác. Đây là lớp đóng góp cốt lõi khiến VMU có vị thế đặc biệt trong kiến trúc phát triển biển của Việt Nam.
Đóng góp thứ hai là đóng góp trong chiến tranh và bảo vệ Tổ quốc. Theo bài viết chính thức của VMU về các thế hệ “xếp bút nghiên lên đường ra trận”, trong giai đoạn 1964-1979 đã có 590 cựu giảng viên và sinh viên của trường xung phong ra mặt trận; họ tham gia trên đoàn tàu không số, tại Thành cổ Quảng Trị, Đường 9 – Nam Lào, Khe Sanh, biên giới Tây Nam, biên giới Đông Bắc và bảo vệ chủ quyền biển đảo; trong đó có 46 người hy sinh. Điều này giải thích vì sao VMU không chỉ là một cơ sở giáo dục mà còn là một phần của ký ức chiến tranh và truyền thống phụng sự Tổ quốc.
Đóng góp thứ ba là vai trò chuẩn hóa và hội nhập quốc tế cho đào tạo hàng hải Việt Nam. Các tài liệu truyền thống của VMU và các file tổng hợp đều nhấn mạnh việc nhà trường tham gia các mạng lưới học thuật hàng hải quốc tế, mở rộng huấn luyện theo chuẩn nghề nghiệp, và góp phần đưa đào tạo hàng hải Việt Nam hòa nhập vào quỹ đạo chất lượng toàn cầu. Bộ hồ sơ tải lên cũng nhấn mạnh ý nghĩa biểu tượng của việc VMU góp phần vào quá trình Việt Nam được nhắc đến trong bối cảnh “Danh sách trắng” của IMO.
Đóng góp thứ tư là nghiên cứu, tư vấn chính sách và chuyển giao khoa học công nghệ phục vụ kinh tế biển đương đại. Từ phát triển cảng thông minh, logistics số, công nghệ vận tải biển xanh, hệ thống báo cháy tàu thủy ứng dụng AI đến các chương trình phát triển KHCN biển cho Hải Phòng, VMU ngày càng hiện diện không chỉ như một nơi đào tạo nhân lực mà còn như một trung tâm kiến tạo tri thức cho kinh tế biển.

(Ảnh: VMU)
VIII. VAI TRÒ CHIẾN LƯỢC CỦA VMU TRONG GIAI ĐOẠN MỚI
Từ góc nhìn chiến lược, vai trò hiện nay của VMU không nên được hiểu giản đơn là “trường hàng hải lớn nhất Việt Nam”. Đúng hơn, VMU đang là một thiết chế được Nhà nước tái giao nhiệm vụ ở cấp độ mới: đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển. Điều này được thể chế hóa rõ bằng Quyết định 1901/QĐ-TTg ngày 05/9/2025 về Đề án xây dựng VMU thành trường trọng điểm quốc gia.
Mục tiêu giai đoạn tới của trường không chỉ là mở rộng quy mô đào tạo mà còn là tái cấu trúc chất lượng: nâng số chương trình đại học lên 50, phát triển đào tạo từ xa, tăng quy mô sinh viên lên khoảng 22.000-26.000 vào năm 2030, đồng thời mở rộng nghiên cứu phục vụ cảng biển, logistics, công nghệ biển và kinh tế đại dương. Nếu đọc cùng với các file phân tích người dùng cung cấp, có thể thấy VMU đang dịch chuyển từ mô hình “đào tạo nhân lực khai thác biển” sang mô hình “trung tâm học thuật – công nghệ biển có khả năng tạo ảnh hưởng chính sách và năng lực cạnh tranh quốc gia”.
Đây là điểm then chốt để đánh giá vai trò của VMU trong xây dựng và phát triển đất nước hiện nay. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh kinh tế biển, cảng biển, logistics, công nghiệp biển, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, VMU giữ một vị trí giao nhau giữa ba lớp nhiệm vụ: cung ứng nhân lực chất lượng cao; sản xuất tri thức và giải pháp công nghệ; và làm cầu nối giữa Nhà nước – doanh nghiệp – mạng lưới học thuật quốc tế. Ít có trường chuyên ngành nào hội tụ được đồng thời ba vai trò này với cường độ rõ như VMU.

(Ảnh: VMU)
KẾT LUẬN
Từ hai trường sơ cấp đào tạo lái tàu và máy tàu năm 1956, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam (VMU) đã phát triển qua nhiều lần nâng cấp, sáp nhập, phân nhánh và tái hợp để trở thành một đại học biển đa ngành, đa bậc học và có vai trò chiến lược cấp quốc gia. Giá trị lớn nhất của VMU không chỉ nằm ở quy mô đào tạo hay bề dày truyền thống, mà ở chỗ trường là một thiết chế trụ cột của năng lực biển Việt Nam. VMU vừa là nơi đào tạo nhân lực, vừa là nơi lưu giữ ký ức lịch sử của ngành biển, vừa là đầu mối nghiên cứu – hợp tác – chuyển giao công nghệ cho phát triển bền vững kinh tế biển. Trong thập niên tới, với khung chính sách mới của Nhà nước và với quỹ đạo hội nhập quốc tế đang mở rộng, VMU có cơ sở để chuyển mình mạnh hơn nữa thành một trung tâm đào tạo và nghiên cứu biển có sức ảnh hưởng khu vực.
PHỤ LỤC A. TIMELINE TRA CỨU NHANH
- 1956: Thành lập Trường Sơ cấp Lái tàu (01/4) và Trường Sơ cấp Máy tàu (01/7). – Đặt nền móng cho đào tạo nhân lực biển có tổ chức; là gốc lịch sử chính thức của VMU.
- 1957: Sáp nhập hai trường sơ cấp thành Trường Sơ cấp Hàng hải. – Bước hợp nhất đầu tiên của hệ đào tạo hàng hải.
- 1959: Nâng cấp thành Trường Trung cấp Hàng hải; chuyển về 8 Trần Phú. – Bắt đầu giai đoạn đào tạo kỹ thuật biển có cấu trúc chuyên ngành rõ hơn.
- 1962-1975: Mở rộng các ban chuyên môn, lập Khoa Đại học Hàng hải. – Chuyển từ đào tạo nghề sang đào tạo hệ sinh thái nhân lực biển.
- 1969: Thành lập Phân hiệu Đại học Giao thông Đường thủy. – Đánh dấu giai đoạn phân nhánh – liên thông giữa các cấu phần đào tạo biển và đường thủy.
- 1976: Trường được xác lập ở bậc đại học; hệ nguồn có hai mốc 07/7 và 27/10. – Bước ngoặt đại học hóa; cần ghi nhận song song khi trích dẫn học thuật.
- 1984: Sáp nhập Trường Đại học Giao thông Đường thủy vào Trường Đại học Hàng hải. – Tạo hình hài cơ bản của VMU hiện đại.
- 1989-1995: Mở phân hiệu phía Nam; cho phép đào tạo cao học; lập Viện Đào tạo Sau đại học. – Hoàn thiện cấu trúc đại học đa bậc học.
- 2013-2014: Đổi tên thành Trường Đại học Hàng hải Việt Nam; tiếp nhận thêm các đơn vị nghiên cứu – đào tạo. – Tái định vị ở cấp quốc gia; mở rộng hệ sinh thái học thuật và thực nghiệm.
- 2025: Phê duyệt Đề án trường trọng điểm quốc gia theo QĐ 1901/QĐ-TTg. – Khẳng định vai trò nòng cốt của VMU trong chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển.
PHỤ LỤC B. BẢNG LÃNH ĐẠO CHỦ CHỐT
- 1956-1957 – Kiều Công Quế (Hiệu trưởng (kiêm)): Giám đốc Cảng Hải Phòng kiêm lãnh đạo Trường Sơ cấp Lái tàu.
- 1956-1957 – Nguyễn Văn Tiên (Hiệu trưởng): Lãnh đạo Trường Sơ cấp Máy tàu; sau đó là Quyền Hiệu trưởng Trường Sơ cấp Hàng hải.
- 1959-đầu 1960s – Lê Văn Cường (Hiệu trưởng): Hiệu trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy ở giai đoạn Trường Trung cấp Hàng hải.
- 1960s – Đặng Văn Qua; Đào Văn Quang (Hiệu trưởng): Các gương mặt lãnh đạo giai đoạn mở rộng đào tạo kỹ thuật biển.
- 1974-1975 – Đỗ Viết Sử (Quyền Hiệu trưởng): Lãnh đạo thời kỳ chuẩn bị đại học hóa.
- 1969-1970s – Vũ Lăng (Hiệu trưởng Phân hiệu GTĐT): Đứng đầu Phân hiệu Đại học Giao thông Đường thủy.
- 1976 – Trần Thiện (Hiệu trưởng (kiêm)): Gắn với bước ngoặt đại học hóa năm 1976.
- 1979-1997 – Lê Đức Toàn (Hiệu trưởng): Lãnh đạo dài hạn sau hợp nhất, giai đoạn củng cố đại học chuyên ngành.
- 1997-2004 – Trần Đắc Sửu (Hiệu trưởng): Giai đoạn phát triển và ổn định tiếp theo.
- 2004-2012 – Đặng Văn Uy (Hiệu trưởng): Đẩy mạnh hiện đại hóa, chuẩn hóa và hội nhập.
- 2012-2019 – Lương Công Nhớ (Hiệu trưởng): Giai đoạn đổi tên trường và mở rộng hệ sinh thái đào tạo – nghiên cứu.
- 2019-nay – Phạm Xuân Dương (Hiệu trưởng): Lãnh đạo giai đoạn trường trọng điểm quốc gia và mở rộng hợp tác quốc tế.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Nguồn chính thức của VMU – trang Lịch sử: https://vimaru.edu.vn/gioi-thieu/lich-su
- Nguồn chính thức của VMU – trang Giới thiệu tổng quan và cơ cấu đơn vị: https://www.vimaru.edu.vn/gioi-thieu
- Nguồn chính thức của VMU – Hội đồng trường nhiệm kỳ 2025-2030: https://www.vimaru.edu.vn/gioi-thieu/hoi-dong-truong
- Nguồn chính thức của VMU – Quan hệ quốc tế: https://www.vimaru.edu.vn/gioi-thieu/quan-he-quoc-te
- Nguồn chính thức của VMU – Đề án trường trọng điểm quốc gia theo Quyết định 1901/QĐ-TTg: https://www.vimaru.edu.vn/tin-tuc/de-xay-dung-truong-dai-hoc-hang-hai-viet-nam-la-truong-trong-diem-quoc-gia-da-duoc-thu-tuong
- Nguồn chính thức của VMU – Nhiệm vụ trọng tâm năm 2025 và thành tựu năm 2024: https://www.vimaru.edu.vn/tin-tuc/truong-dai-hoc-hang-hai-viet-nam-nhan-dien-cac-nhiem-vu-trong-tam-nam-2025
- Nguồn chính thức của VMU – bài viết về hợp tác với Đại học Hàng hải Thế giới (WMU) ngày 12/6/2025: https://www.vimaru.edu.vn/tin-tuc/truong-dai-hoc-hang-hai-viet-nam-va-dai-hoc-hang-hai-gioi-trao-van-kien-hop-tac-duoi-su
- Văn bản Chính phủ – Quyết định 1056/QĐ-TTg ngày 03/7/2013 về đổi tên Trường Đại học Hàng hải thành Trường Đại học Hàng hải Việt Nam.
- Văn bản Chính phủ – Quyết định 1901/QĐ-TTg ngày 05/9/2025 về phê duyệt Đề án xây dựng Trường Đại học Hàng hải Việt Nam là trường trọng điểm quốc gia.
- Nguồn chính thức của VMU – Bài viết về các thế hệ cựu giảng viên, sinh viên xếp bút nghiên lên đường ra trận: https://vimaru.edu.vn/tin-tuc/gap-mat-cac-he-cuu-giang-vien-sinh-vien-nha-truong-xep-nghien-len-duong-ra-tran-chien-dau-tu
